Vì sao học thư pháp nên bắt đầu từ đọc, không phải từ viết? | Học thư pháp Online


Chuyện học thư pháp · Bài 01Văn hoá thư pháp

Một bạn trong lớp viết bốn chữ rất đẹp mà không biết nghĩa, và định mang tặng tân gia. Từ chuyện ấy, mình muốn kể vì sao mình tin việc học thư pháp phải bắt đầu từ đọc, và mình làm điều đó thế nào trong lớp Online.

Người viết Thanh PhongĐọc khoảng 13 phútCó video 12 giây và bản đọc
Học thư pháp: đọc trước, viết sau

Video 12 giây: ba ý chính của bài · nhạc nền phong cách nhã nhạc cung đình

Mấy tháng trước, một bạn trong lớp học thư pháp Online của mình có gửi cho mình một bức bốn chữ thư pháp. Nét khá đẹp. Đậm nhạt có nhịp, hàng lối ngay ngắn, dấu triện đóng đúng chỗ. Mình xem xong thì có chút bất ngờ, rồi hỏi một câu kiểu quen miệng: "Bức này em viết tặng ai?" Bạn trả lời là tặng anh chị bạn mới mua nhà, sắp làm tân gia. Mình hỏi tiếp: "Em có biết bốn chữ này nghĩa là gì không?" Im lặng một lúc, bạn nhắn: "Em thấy mẫu trên mạng đẹp nên chép theo ạ, thầy dịch giúp em."

Bốn chữ ấy là nguyên viễn lưu trường, thường được treo trong không gian thờ cúng. Treo trong nhà mới, giữa bữa tiệc mừng, một câu chúc như vậy, em nghĩ có phù hợp không? Bạn ấy đỏ mặt, mình cũng ngại thay. Nhưng mình nhớ chuyện này không phải để kể một lỗi của học viên. Mình nhớ vì nó cho mình thấy rõ một điều đã lờ mờ cảm thấy nhiều năm: có thể viết chữ rất đẹp mà không biết mình đang viết câu gì. Tay đã đi trước đầu khá xa, và không ai nhắc bạn ấy quay lại.

Bài này mình muốn nói về chữ "đọc". Vì sao mình tin rằng học thư pháp phải bắt đầu từ việc đọc, hiểu chữ, hiểu văn bản, hiểu người viết, chứ không phải từ cây bút. Mình sẽ kể cách mình nghĩ về ba bậc viết nên con chữ, viết nên con người, viết nên văn hoá, và về câu "văn trước mực sau" mà mình thấm dần sau nhiều năm dạy.

1. "Thư pháp" có phải là "viết chữ đẹp" không?

Người mới học thường mang theo một hình dung rất tự nhiên: thư pháp là nghệ thuật làm cho chữ trông đẹp. Nếu vậy, con đường học hẳn phải bắt đầu từ cổ tay, từ cách cầm bút, từ nét ngang nét sổ, còn chữ viết gì thì chọn sau, câu nào hay hay là được. Mình cũng từng nghĩ thế, và thực ra cách nghĩ ấy không sai hẳn. Nó chỉ thiếu một nửa.

Thử so với hát. Một người có giọng rất hay, kỹ thuật rất tốt, hát một bài tiếng nước ngoài mà không hiểu lời, thì mình nghe vẫn thấy hay. Nhưng người nghe hiểu lời sẽ nhận ra ngay: chỗ cần nghẹn lại thì bạn ấy lướt qua, chỗ cần buông thì bạn ấy gồng lên. Giọng đẹp mà bài hát trống.

Trước đây đã từng có lần mình đấu khẩu trên mạng chỉ vì người viết chữ lúc đó… không viết! Tức là họ đang vẽ chữ! Bởi họ đập dẹt ngòi bút, cắt đầu lông bút, chấm mực nhiều lần, đồ tô lại nét… không khác gì một người ca sĩ đang hát mà lại dùng phần mềm để chỉnh giọng, người chụp ảnh lại dùng phần mềm để chỉnh sửa. Mặc dù kết quả có thể đẹp, hay đối với nhiều người, nhưng đối với mình thì bản chất đã bị thay đổi.

Thư pháp giống hệt. Dương Hùng đời Hán có một câu mình rất thích: thư, tâm hoạ dã, chữ là bức vẽ của lòng. Mà đã là một bức vẽ lòng thì không thể nào chỉ dừng lại ở việc tạo tác ra được con chữ. Chữ viết ra là dấu vết của một người đang nghĩ một điều gì đó. Nếu người ấy không nghĩ gì, chỉ chép, thì trên giấy cũng chỉ còn cái vỏ.

Mình nghiệm ra rằng mọi vẻ đẹp của thư pháp đều đứng trên một nền không nhìn thấy: cái chữ ấy có nghĩa, cái câu ấy có ngữ cảnh, và người viết có mặt trong đó. Vương Hy Chi viết «Lan Đình tự» đẹp đến vậy không phải vì hôm ấy tay ông khéo hơn mọi ngày, mà vì ông vừa ngồi giữa bạn bè, uống rượu, làm thơ, và chợt nghĩ về cái ngắn ngủi của đời người. Chữ chỉ là chỗ cuối cùng mà cả buổi hôm ấy đọng lại. Học thư pháp mà chỉ nhìn chỗ đọng lại, không nhìn cả buổi, thì học được một phần nhỏ thôi.

2. Ba bậc: viết nên con chữ, viết nên con người, viết nên văn hoá

Để tự sắp xếp lại việc học và việc dạy, mình hay dùng một mô hình ba bậc. Nó không phải của riêng mình, nhiều người đi trước đã nói theo cách này cách khác, nhưng mình thấy nó dễ nhớ và dễ soi vào chính mình.

Ba bậc của việc viết

  • Viết nên con chữ: nét đúng, kết cấu vững, hàng lối gọn. Đây là bậc của tay. Ai chăm cũng lên được, chỉ cần thời gian và một mẫu tốt.
  • Viết nên con người: trên nét có tình, có tính khí của người cầm bút. Chữ của bạn khác chữ của mình không vì cố làm khác, mà vì bạn là bạn. Bậc này không luyện bằng cơ tay được.
  • Viết nên văn hoá: chữ mang theo cả điều mình đã đọc, đã sống, đã tin. Người xem đọc được trong chữ một con người có gốc. Bậc này là chuyện cả đời.

Mình nghĩ ba bậc nói về cái mình đạt được sau nhiều năm, còn chuyện đọc là cách tổ chức mỗi buổi học. Người mới vẫn đang ở bậc viết chữ, hoàn toàn có thể đi từ những nét cơ bản bình thường. Nhưng mỗi bài lâm của người mới đã nên có một phần đọc kèm, dù chỉ mười phút. Giống như tập xe đạp: bạn chưa đi được xa, nhưng ngay từ buổi đầu đã phải nhìn đường chứ không nhìn bàn chân. Thói quen nhìn đường hình thành sớm thì sau này đi nhanh mới không ngã.

3. "Văn trước mực sau", câu mình thấm dần

Trương Hoài Quán, một người bàn về thư pháp thời Đường, có nói đại ý: bàn tài năng một người, xét văn trước rồi mới xét mực. Hồi mới đọc câu này, mình thấy nó hơi khe khắt. Chẳng lẽ người không giỏi văn thì không được viết chữ? Sau mình hiểu ông không nói về bằng cấp. Ông nói về thứ tự: cái bạn hiểu phải đi trước cái bạn viết. Mực chỉ là chỗ cái hiểu ấy hiện ra.

Bút cùn chất thành núi chưa đáng quý; đọc sách vạn quyển mới thông thần.Tô Đông Pha

Người xưa có một từ cho cái mùi của sự đọc trên giấy: thư quyển khí, tức là "khí sách vở". Hoàng Đình Kiên gọi nó là khí của học vấn văn chương, và các cụ đời Tống hay nói trong lòng có muôn quyển sách thì hạ bút không có khí tục. "Tục" ở đây không phải xấu xí. Chữ tục có thể rất khéo, rất bắt mắt, nhưng nó khéo kiểu đồ trang trí, xem xong không đọng gì. Chữ có thư quyển khí có thể vụng hơn, mà người xem muốn đứng lại lâu, vì sau chữ có một người đang suy nghĩ, đang chiêm nghiệm. Điều này khiến cho nhiều bức viết của học viên phân tầng ra nhiều trạng thái khác nhau của pháp và ý mà mình có thể nhìn thấy.

Mình nhớ lần đầu đọc kỹ «Tế điệt văn cảo» của Nhan Chân Khanh, bản nháp bài văn tế cháu ông chết trong loạn An Lộc Sơn. Trước đó mình chỉ thấy đây là một bức hành thư nhiều chỗ gạch xoá, nét có vẻ vội. Đọc xong nội dung, biết hoàn cảnh, mình nhìn lại và thấy từng chỗ xoá là một chỗ ông nghẹn. Cùng một tờ giấy ấy, trước và sau khi đọc, là hai tác phẩm khác nhau trong mắt mình. Và điều quan trọng hơn cho việc học: trước khi đọc, mình không biết mình đang học cái gì ở bản ấy. Sau khi thực sự đọc, mình đã hiểu ra nhiều điều.

Đọc không làm nét bạn đẹp lên ngay, nhưng nó cho bạn biết mình đang viết cái gì, và vì sao nét phải thế.Thanh Phong

Đối với người mới, việc đọc này bao gồm những gì?

  • Đọc để lấy nội dung.
  • Đọc để hiểu hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm.
  • Đọc để lấy ra những manh mối về kỹ thuật, về tâm trạng người viết.

4. Đọc nhiều có tự động viết đẹp không?

Mình phải thật thà ở chỗ này, vì nếu không bạn sẽ hiểu lầm bài này thành lời khuyên "bỏ bút, đi đọc sách". Không phải. Đọc không bảo đảm chữ đẹp hay kỹ thuật sẽ lên tay. Lịch sử có đủ ví dụ: các ông quan đời xưa, đọc sách cả đời, viết ra lối chữ công văn tròn trịa đều đặn mà người sau vẫn chê là không có khí. Đọc nhiều mà không chịu tập tay, chữ vẫn vụng; đọc nhiều mà đọc kiểu nhồi, chữ còn có thể cứng lại, mất cái hồn nhiên.

Vậy đọc giúp gì? Mình thấy nó giúp ba việc rất cụ thể. Một, nó cho bạn biết vì sao nét này phải thế, nên khi lâm bạn không chép mù. Hai, nó giữ cho bạn khỏi những lỗi "văn hoá", kiểu như bức nguyên viễn lưu trường ở đầu bài, những lỗi mà kỹ thuật không cứu được. Ba, về lâu dài, nó cho bạn có cái để viết khi không còn mẫu để chép. Ba việc ấy không cái nào thay được bốn mươi phút tập nét mỗi ngày, nhưng thiếu chúng thì bốn mươi phút ấy đi vòng vòng.

Cho nên lời khuyên "bắt đầu từ đọc" của mình là lời khuyên về thứ tự trong mỗi buổi, không phải về thứ tự của cả đời học. Hai mươi phút đọc rồi bốn mươi phút viết, tuần này qua tuần khác. Bạn vẫn cầm bút ngay từ ngày đầu. Chỉ là trước khi cầm, bạn dừng lại một lúc để biết mình sắp viết gì. Phần kỹ thuật, cái "tay" mà bài này mới chỉ gọi tên, mình bàn kỹ ở bài Nét chữ là bản ghi của dấu vết và thời gian.

Văn trước mực sau先文後墨Hiểu điều mình viết trước, rồi mới lo đến nét; thứ tự này không đảo được.
Thư quyển khí書卷氣"Khí sách vở" toát ra từ chữ của người có đọc; thước đo để phân biệt chữ thanh với chữ tục.
Độc thiếp讀帖Đọc thiếp: ngồi nhìn và hiểu bản mẫu bằng mắt, bằng kiến thức, trước khi tay chạm giấy.
Lâm thiếp臨帖Đặt bản mẫu bên cạnh và viết theo, cố nắm cái "phép" của người xưa chứ không chỉ cái hình.
Pháp thiếp法帖Bản chữ mẫu đáng học, có "phép" trong đó; không phải bức nào đẹp trên mạng cũng là pháp thiếp.

5. Học thư pháp Online bằng chữ Quốc ngữ thì đọc gì?

Đến đây có bạn sẽ bảo: những điều trên là chuyện của chữ Hán, còn mình viết chữ Quốc ngữ, đọc là hiểu ngay, cần gì "đọc trước". Mình nghĩ ngược lại. Chữ Quốc ngữ càng cần đọc hơn, vì hai lẽ.

Lẽ thứ nhất, con chữ Latin không mang sẵn ý nghĩa trong hình nét như chữ Hán. Chữ "nhẫn" trong Hán tự có hình con dao trên trái tim, nhìn đã gợi; chữ "nhẫn" Quốc ngữ chỉ là bốn ký tự. Vậy phần "văn hoá" của thư pháp Việt không thể nằm ở tự dạng; nó nằm gần như hoàn toàn ở câu được viết và người viết ra câu ấy. Bạn viết một câu Kiều mà không biết câu ấy nằm ở đoạn nào, Kiều đang vui hay đang giận hay đang đau, thì bức chữ của bạn chỉ còn là một dòng chữ đẹp.

Lẽ thứ hai là lỗi. Với chữ Hán, lỗi hay gặp là viết sai chữ, dùng chữ đồng âm khác nghĩa. Với chữ Quốc ngữ, lỗi tương đương là sai dấu hỏi ngã, viết hoa tuỳ tiện, hay trích thơ sai một chữ. Mình từng nhận một bài viết "chữ tài chữ mệnh khéo mà ghét nhau", thể chữ rất đẹp; nhưng nguyên bản phải là "khéo là ghét nhau". Rồi có đợt triển lãm, có người viết bản dịch thơ của Phật hoàng Trần Nhân Tông là:

Ở trần
Có đạo
Cứ tuỳ duyên
…

Khách đến xem cho là bất nhã, vì câu dịch đó dễ hiểu nhầm thành người ở trần không mặc gì.

Một chữ thôi, nhưng người biết Kiều nhìn vào là mất cả bức, người hiểu thơ lại thấy nó là bất nhã. Đó là lỗi văn hoá, kỹ thuật không sửa được. Người học thư pháp Online ít có thầy ngồi cạnh nhắc, nên thói quen tra lại nguồn trước khi mài mực càng phải tự xây dựng.

Đọc trước khi cầm bút

  • Đọc trọn bài thơ, đoạn văn chứa câu mình sắp viết, không chỉ câu đó.
  • Tra lại chính tả, dấu, nguyên bản; với Hán Nôm thì tra tự điển, không tin chữ trên mạng.
  • Biết người viết câu ấy là ai, viết trong hoàn cảnh nào.
  • Tự hỏi bốn câu: vì sao viết, viết cho ai, viết gì, viết thế nào.

Đọc trong khi lâm

  • Nhìn bản mẫu bằng mắt trước mỗi dòng: nhịp nhanh chậm, đậm nhạt, chỗ nối chỗ ngắt.
  • Tìm chỗ tâm trạng người viết lộ ra trên nét: chỗ xoá, chỗ run, chỗ chậm lại.
  • Lâm xong treo lên, lùi ba bước, để mắt đi trước tay.
  • Ghi một câu nhận xét bằng chữ về bài vừa lâm, như nói chuyện với chính mình.

Bốn câu hỏi "vì sao, cho ai, gì, thế nào" nghe đơn giản mà mình thấy chặn trước được rất nhiều bức hỏng. Viết tặng tân gia thì không chọn câu buồn, câu có ý cúng người đã khuất. Viết tặng người lớn tuổi thì không chọn thể chữ bay quá, khó đọc. Viết câu đối Tết thì phải biết vế trên vế dưới đối nhau ở chữ nào, mang phong vị gì. Với người viết thư pháp Việt, đọc Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, đọc thơ Thiền Lý Trần, đọc ca dao cho kỹ, theo mình chính là "sách vở" của mình, như người xưa đọc kinh sử.

6. Gói đọc đi kèm mỗi bài lâm ở lớp Online của mình

Mình không muốn những điều trên chỉ là lời nói, nên vài năm nay mình thử đưa nó vào cấu trúc bài học của Thanh Phong Thư Môn. Mỗi mẫu chữ giao cho học viên, Quốc ngữ hay Hán Nôm, đều đi kèm một "gói đọc" ngắn, gồm bốn thứ: văn bản đầy đủ của câu được viết, có chú nghĩa, có phiên âm và dịch nếu là Hán Nôm; vài dòng về người viết và hoàn cảnh; một ghi chú về bản mẫu, lấy từ đâu, điểm nào là "phép" đáng học, điểm nào là tì vết của bản in; và một câu hỏi để học viên trả lời bằng chữ trước khi nộp bài lâm.

Câu hỏi ấy là phần mình coi trọng nhất. Với một câu Kiều, mình hỏi: "Theo em, câu này Kiều nói với ai, và nếu em là Kiều em sẽ nói nhanh hay chậm?" Với một bài thơ Thiền: "Chữ nào trong bài em thấy nên viết có sức nặng nhất?" Không có đáp án đúng. Nhưng để trả lời, bạn buộc phải đọc kỹ. Thảo luận trong nhóm lớp vì thế xoay quanh câu hỏi ấy nhiều hơn quanh nét bút, và mình nhận ra bài lâm nộp sau những buổi thảo luận sôi nổi thường "có người" hơn hẳn, dù nét chưa chắc đã đẹp hơn.

Mình không dám nói cách làm này đã hoàn chỉnh. Có bạn thấy phần đọc là gánh nặng, muốn tập nét ngay, và mình hiểu. Có tuần mình soạn gói đọc không kịp, chỉ gửi được văn bản và nghĩa chữ. Nhưng mình giữ một nguyên tắc: không bài lâm nào trong lớp học thư pháp Online của mình đi ra mà không có một trang đọc đi trước. Về kỹ thuật đọc thiếp bằng mắt, cách phân biệt lâm, mô và thác, mình viết kỹ hơn ở bài Lâm thiếp: biết mình đang chép bản gì trước khi hạ bút.

Thầy dạy qua mạng không cầm tay được học trò, nhưng phải cố gắng đặt được vào tay họ đúng trang sách.Thanh Phong

Lời cuối

Quay lại bạn học viên ở đầu bài. Sau hôm ấy, bạn không viết lại bốn chữ đó nữa. Bạn hỏi mình nên viết gì cho tân gia, mình không trả lời thẳng, chỉ gợi bạn đọc vài bài thơ về nhà, về sum họp, rồi tự chọn. Bạn chọn hai chữ an cư, và lần này, trước khi gửi bài, bạn nhắn kèm một đoạn dài giải thích vì sao chọn chữ ấy, vì sao viết chữ "an" rộng hơn chữ "cư". Nét tuy chưa đẹp bằng bức trước, do bạn chưa quen tự tạo thế. Nhưng mình xem mà vui hơn nhiều, vì lần này trong chữ có một con người, một nét văn hoá.

Nếu bạn đang tự học hay học thư pháp Online ở đâu đó, mình chỉ mời bạn thử một việc nhỏ trong tuần này: trước khi viết một câu, hãy đọc trọn bài chứa câu ấy, tra lại một chữ bạn chưa chắc, và viết ra một dòng về việc bạn hiểu câu ấy thế nào. Rồi hãy cầm bút. Nếu thấy chữ có gì khác đi, hay chẳng khác gì, mình đều rất muốn nghe. Hãy kể lại cho mình nhé.

Thanh Phong

Hỏi – đáp

Người mới học thư pháp có nên cầm bút ngay hay phải đọc trước?

Cầm bút ngay, bạn ạ. Mình chỉ mời bạn dành mười, hai mươi phút đầu mỗi buổi để đọc trọn câu sắp viết, hiểu nghĩa, biết ai viết và trong hoàn cảnh nào. 'Đọc trước' là thứ tự trong một buổi học, không phải lời khuyên gác bút đi đọc sách cả năm.

Ba bậc viết nên con chữ, viết nên con người, viết nên văn hoá nghĩa là gì?

Viết chữ là nét đúng, kết cấu vững, ai chăm cũng lên được. Viết nên con người là trên nét có tình, có tính khí của bạn. Viết nên văn hoá là chữ mang theo cả điều bạn đã đọc, đã sống. Từ bậc một lên bậc hai không có cầu thang bằng bút; cái đưa bạn lên là bạn có điều gì để viết và hiểu nó đến đâu.

Viết thư pháp chữ Quốc ngữ, đọc là hiểu ngay, có cần 'đọc trước' nữa không?

Càng cần hơn. Con chữ Latin không mang sẵn ý nghĩa trong hình nét như chữ Hán, nên phần văn hoá của thư pháp Việt nằm gần hết ở câu được viết và người viết ra câu ấy. Trích thơ sai một chữ, chọn câu buồn tặng tân gia, đó là những lỗi mà kỹ thuật không cứu được.

Học thư pháp Online thì làm sao giữ được thói quen đọc trước khi viết?

Trong lớp Online của mình, mỗi mẫu chữ đều kèm một gói đọc ngắn: văn bản đầy đủ có chú nghĩa, vài dòng về tác giả và hoàn cảnh, ghi chú về bản mẫu, và một câu hỏi để bạn trả lời bằng chữ trước khi nộp bài lâm. Nếu tự học, bạn có thể tự làm một gói như vậy trong một cuốn sổ.

Học thư pháp Online cùng mình

Nếu bạn muốn đi con đường này một cách bài bản mà vẫn vừa với lịch bận rộn, lớp Online của Thanh Phong Thư Môn học theo lộ trình từ cầm bút đến sáng tác, có chấm bài qua video. Mình sẽ đồng hành cùng bạn.

Xem lớp học thư pháp Online
Thanh Phong Thư Môn · thudao.com

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét